|   |   |   |   | 
  |     |     In

TÌM LẠI ANH TÔI NƠI KHUNG TRỜI CŨ
 
Viết cho những trẻ em bất hạnh.
Và, để kính dâng hương hồn anh Nguyễn Tuấn Điệu .
 
 
Ngày tôi bước lên bậc Trung học, cũng là những ngày gia đình tôi dọn nhà rời khỏi xóm đạo tân lập của người Bắc di cư, nằm ở vùng ven thành phố Biên Hoà; tứ phía  bị bao quanh bởi những làng Nam toàn người bên lương, khuất trong cánh rừng cao su dầy đặc.
 
Viết là “bị bao quanh”, chắc nhiều người cho rằng chữ dùng không được khéọ  Nhận xét như thế chẳng sai đâụ Người viết cũng đã biết là cần phải sửa lại đôi chữ, nhưng sẽ không sửa theo cách bạn đang nghĩ trong đầu, mà lại sửa chữ “quanh” thành chữ “vây”.  Thật đấy ! Chẳng ngoa . Như thế mới đúng với hoàn cảnh của cái xóm đạo nghèo nàn vào thời hậu Cách mạng 1963, khi trẻ con trong xóm đạo chúng tôi hàng ngày đến trường, cứ phải làm dấu Thánh giá để can đảm xuyên qua vòng vây chòng ghẹo của đám trẻ người Nam.
 
Rời bỏ xóm làng thân thương, tuy thoát được cảnh sợ hãi bởi sự dao động Tôn giáo, nhưng anh em tôi vẫn khóc nhiều lắm.  Chúng tôi cứ nghĩ rằng thày mẹ tôi đã vô tình, chỉ vì thích dọn về gần họ hàng mà bắt chúng tôi phải buồn khổ khi phải từ biệt bạn bè, hàng xóm.  Mãi  đến khi đã khôn lớn, mỗi lần nhớ lại hoàn cảnh bất ổn lúc bấy giờ, tôi mới thương cho nỗi lòng của thày mẹ tôi và hiểu được lý do tại sao, gia đình lại dọn đi khỏi một nơi tưởng là đã an cư để lạc nghiệp.
 
***
 
Nơi gia đình tôi mới dọn đến cũng lại là một xứ đạo, nhưng không bị bao vây bởi những làng Nam, mà được bao bọc bởi những xứ đạo khác toàn người Bắc di cự  Ý nghĩ  trong đầu óc non nớt của tôi bấy giờ, là gia đình tôi đã được sống ở một nơi bình an lắm, vì nghĩ rằng tất cả vùng Hố Nai dọc hai bên Quốc lộ 1 được Chúa tạo nên, là chỉ để dành riêng cho người Bắc hiền lành ngoan đạo; Vì thế, thỉnh thoảng mới có một vài người nói giọng Nam đến rồi đi,  dáo dác vội vàng như đang... bước phạm vào vùng đất thiêng của Chúa .
 
Cũng như nơi xóm đạo cũ, ngày hai buổi chuông vang; nhưng chuông nhà Thờ ở đây không bị chìm ngay vào cánh rừng cao su mênh mông như trước, mà thi nhau vang inh ỏi ngay từ lúc tinh mơ khi đang ngon giấc, hay lúc chúng tôi mải mê rong chơi trên cánh rừng đầy quả mòi chua ngay sau nhà.  Sau hồi chuông như cố lật tung tấm chăn ấm hay làm vỡ toang buổi chiều êm ả, là tiếng đoàn chiên ngoan đạo rầm rập bước qua nhà.  Tất cả những âm thanh đó đã khiến anh em tôi không còn lý do nào để không nhận ra rằng:  Từ nay, khó thoát được ngày hai buổi đi lễ và việc dọn nhà về đây, có vẻ như là bị … chui vào rọ! 
 
Nhưng “tai hoạ” không chỉ vỏn vẹn có thế; dọn về đây, anh em tôi tránh được vỏ dừa Nam, lại gặp vỏ dưa Bắc.  Những đứa trẻ quen thói “Ma cũ bắt nạt ma mới” cứ bâu vào chúng tôi mà chòng ghẹọ Nay nghĩ lại, tôi vẫn cứ ước gì ngày ấy được may mắn như bây giờ, khi sự di chuyển chỗ ở đã xảy ra thường xuyên để có những “ma mới” về thế chỗ cho anh em tôi nhờ; hay giá mà anh trai tôi không ốm yếu gầy gò, thì sự chòng ghẹo của đám trẻ cũng chỉ ở vào giới hạn đủ để làm đứa khác bực mình, có khi nổi quạu đánh lại - Như tôi chẳng hạn,  đã nhiều lần liều mình giáng trả những quả đấm toé lửa, để lột ra khỏi mình cái nhãn hiệu "ma mới".  Chẳng bao lâu sau khi dọn nhà về vùng rặt người "có đạo", phận tôi coi như đã yên; chỉ tội nghiệp cho anh tôi, dù đã có một vài gia đình mới dọn về, nhưng vì gầy ốm nên trong con mắt những thằng "ma cũ" ngỗ nghịch, anh vẫn cứ bị làm con "ma mới" thiệt thòi .
 
Chỉ một năm sau, sinh hoạt của gia đình tôi nơi xứ đạo mới đã trở thành quen thuộc.  Thày mẹ tôi lại cho chúng tôi vào đoàn Hướng Đạo nên đối với bản thân tôi, chẳng còn nỗi bận tâm gì trên mảnh đất mọc đầy những nhà thờ cao vút và những cánh rừng chồi mênh mông bên kia hàng rào Ấp Chiến Lược.  Riêng anh tôi, phận thiệt thòi vẫn đeo đuổi; thoát được tai ách bên phía trường học vì giỏi dang được chúng bạn nể kiêng, thì lại vướng nạn bên mạn nhà Thờ; tất cả vì một điều hơi tréo cẳng, là lại bởi chính tình thương mến của cha xứ.
 
Ôi ! Ngày ấy, mọi thứ ở nhà Cha cái gì cũng ngon làm sao!  Lúc còn thơ, tôi vẫn nghĩ mãi về điều này mà chẳng ra lời giải đáp.  Có thể là Chúa ban riêng cho những người đi tu chăng?  Chỉ cần nhìn vào sân nhà Cha đã thấy thèm: Ngay đầu khoảng sân trống là cái giếng có nắp đúc bằng xi-măng gắn máy bơm nước... bằng tay, cả vùng không còn ai có .  Nước mát trong vắt và ngọt như pha đường.  Có lẽ, đây là nguồn nước duy nhất trong xứ không có cung quăng bơi lội, nên trẻ con thường cứ cặp đôi mà kéo đến, thay nhau, đứa thì kéo cần, đứa thì há miệng uống nọ  Ngay cạnh sân giếng là hàng rào kẽm gai ngăn với hàng xoàị  Đến mùa, quả chín vàng cả cây; chẳng bù cho mấy cây nhà tôi, ít khi được nhìn thấy quả nào ngả màụ Còn kia là khóm chuối tiêu ra buồng hết lứa này đến lứa khác, lắm khi chim đã đến mổ lỗ chỗ mà vẫn chưa thấy bà bếp động tĩnh gì; đã nhiều lần đứng ngoài hàng rào nhìn vào, chúng tôi thèm nhỏ rãị  Có lần, mẹ tôi bảo anh tôi vào trình Chạ  Tuy hơi nhút nhát, nhưng có lẽ vì niềm hy vọng dạt dào nên anh tôi mạnh dạn đi vòng qua sân nhà Thờ để bấm chuông vào cổng trước.  Quả thật, khi về, trên tay anh xách hai nải chuối đầy ắp.  Từ đó, cha xứ thương anh em chúng tôi hơn, ngài thường sai bà bếp gọi chúng tôi sang để cho quà;  lắm khi chúng tôi được ăn những miếng bánh thật ngon chưa hề thấy ngoài chợ.  Sau này chúng tôi biết được rằng, hầu hết những quà cáp mà giáo dân biếu xén trong những dịp Tết hay cưới hỏi, ngài đều sai bà bếp đem phát cho đám trẻ gần nhà Thờ, chứ chẳng riêng gì anh em tôi .
 
Thế mà, nhiều đứa trẻ được quà nhưng lại chỉ có mỗi anh tôi bị rắc rốị  Này bạn ạ, chớ vội nghĩ oan cho cha xứ của tôi mà có tội đấy!   Ngài hiền lành đáng kính rất mực, nhưng ngược lại thì mấy đứa đệ tử giúp lễ của ngài lại láu cá hết mức.  Chúng ghét anh em tôi chỉ vì một điều rất đơn giản, là được hưởng quà của cha xứ mà vẫn một mực gọi chúng bằng "thằng".  Đời này quả lắm điều vớ vẩn!  Cho đến bây giờ, sau mấy chục năm trường suy nghĩ, tôi vẫn không thể hiểu được tại sao cũng chỉ là những đứa nhóc nghịch ngợm như tôi,  mà hễ vào đội giúp lễ cho Cha, là nhiều người đã gọi chúng bằng "cậu" một cách rụt rè.  Quả là vô lý ! Nhưng cũng chính vì sự suy nghĩ rất hợp lý của anh em tôi nên sáng nào đi lễ về ngang qua cổng nhà Cha, cũng thường bị bọn chúng kéo ra khà khịa, và anh tôi lại là đứa chịu nhiều bể đầu sứt trán nhất.
 
Sự bắt nạt cứ thế dai dẳng.  Đã nhiều lần thày tôi định vào trình Cha, nhưng mẹ tôi can ngăn, e rằng làm phiền đến cha xứ và phiền các "cậu".  Cuối cùng, thày tôi phải rước ông chú họ đi lính về nhà vào dịp chú được nghỉ phép... .  Thế rồi, cứ mỗi buổi tối, chú tôi lại mở toang cổng rồi dạy chúng tôi vài miếng võ ... hiểm.  Trẻ con đồn nhau thập thò đứng xem.  Ba hôm sau chú lại đị  Ấy thế mà từ đó mọi sự im bặt, anh tôi chẳng còn đứa nào dám hà hiếp.  Được đà, anh em tôi đều đi học võ.  Anh mạnh khoẻ hẳn ra rồi sau này cũng gia nhập vào quân đội .
 
***
 
Thấm thoắt đã hơn bốn mươi năm trôi quạ  Lắm khi nghĩ đến thân phận của anh tôi mà thương.  Anh như kẻ có mệnh tật ách lại bị sinh ra trên đất Việt.  Dù anh không câm điếc què quặt, không phong cùi dị dạng, nhưng chỉ vì gầy gò mà sự thua thiệt bám suốt thời thơ ấu, như chúng đã bám vào một người câm không điếc gọi là " Lão câm già" sống trong viện Bác Ái, cũng bằng những đứa trẻ ngỗ nghịch đuổi theo ông khắp các nẻo đường để chọc ghẹo, hay bám vào những đứa trẻ tật nguyền : cái Tuyết què, thằng Viễn gù, thằng Long "xì que"...  cùng biết bao nhiêu kẻ xấu số suốt đời đã phải mang dị dạng trên thân xác, lại phải mang thêm cả cái "chết danh" đầy mặc cảm, khiến họ phải suốt ngày lủi thủi một mình để tránh sự châm chọc, hành hạ bởi những đứa lành lặn.
 
Ôi! Những ngày tháng cũ đậm nỗi buồn!  Ở ngay nơi xứ đạo toàn là những người "Chúa chọn" mà kẻ bất hạnh còn bị dập vùi, trách chi ở những nơi "Chúa chưa chọn"!  Như thế, phải chăng sự bất hạnh đã không do Thượng đế mang tới, mà bởi con ngườị  Kẻ khuyết tật đơn giản chỉ là những người thiệt thòi về thể chất cần được nâng đỡ, nhưng sự bất hạnh về tinh thần là do chính người chung quanh mang đến để đầy đoạ nhaụ  Tiếc thay, trên trái đất này, vẫn còn nhiều người đã bị thua thiệt về thể xác, lại còn bị vùi dập trong nỗi đắng cay !
 
Nhớ lại những tháng ngày thơ ấu của anh tôi, mà thương cho những trẻ em nghèo khổ, tật nguyền ở quê nhà.  Nỗi thiệt thòi của anh tôi sánh với người khuyết tật chỉ là một trời, một vực, vậy mà nó đã để lại trong tâm hồn tôi một sự khó chịu gần như nỗi hận khó phôi phạ  Nếu tôi lại chính là kẻ bị tật nguyền, suốt cuộc đời phải đối diện với muôn vàn cay đắng … . Thú thực, tôi chẳng dám nghĩ tới mà chỉ biết thầm cám ơn Thượng đế đã không kéo tôi ra từ đám sinh linh, trong cuộc lựa chọn người thủ vai “kẻ khuyết tật” cho Ngàị  Tất cả đều do thiên định.  Người lành lặn thường được hiểu trong tư duy thông thường của loài người, là người được may mắn Trời thương hơn kẻ khác; nhưng nếu hiểu bằng sự chấp nhận mình thật nhỏ nhoi trước Thượng đế, sẽ nhận ra ngay rằng tự thuở nào, mọi người dường như đã xếp hàng đứng trước Thượng đế để Ngài chọn lựa từng người, mà giao nhiệm vụ thi hành thiên ý sâu sa của Ngàị  Trong sự lựa chọn này, mọi người đều đã được bình đẳng, chẳng ai hơn cũng chẳng ai kém.  Có những người được chọn ra để sau này làm vua, cũng có những người được chọn lựa để thủ những vai chịu đau đớn về thể xác, chịu nhiều thua thiệt trong sự đui hủi, què quặt, để làm một thí dụ điển hình cho Ngài dạy nhân loại bài học Yêu thương.  Nếu ví cuộc đời như vở kịch trường thiên của Thượng đế, mà ý nổi bật trong nội dung là Tình Yêu , là sợi dây liên kết giữa loài người với nhau và với Thượng đế, thì chúng ta, những người lành lặn chỉ thủ những vai tầm thường, còn những kẻ ta cho là bất hạnh mới là những vai chính. Hiểu được như vậy thì hẳn phải nhận ra họ đã là những anh hùng, đang thi hành một sứ mạng to tát. Và, kẻ nào đã không nhận ra phận mình, lại còn nhẫn tâm đem lại đau khổ cho đồng loại, cả là một sự đối nghịch với Trời .
 
 Riêng trên đất nước mình, không biết sau hơn bốn mươi năm, kể từ khi người viết được chứng kiến tận mắt những đau khổ của người khuyết tật, thì nền giáo dục đã tác động vào quần chúng được xa hơn, sâu rộng hơn xưa hay không ?  Nền giáo dục đã thay đổi được nhiều trên thái độ của một số kẻ lành lặn thiếu ý thức, hay sự cố gắng giáo dục vẫn không giảm bớt được quán tính vô giáo dục, của không ít những người chỉ thích mang sự bất hạnh đến cho người tật nguyền bằng nhiều cách; bằng sự hất hủi miệt khinh, bằng sự lợi dụng sức lao động và lợi dụng phần lành lặn còn lại của những người kém may mắn để  trục lợi cho mình.
 
Muốn tạo được một nền tảng phẩm hạnh trên cách cư xử với người khuyết tật cho cả một xã hội, phải cần một thời gian dài, nhưng trước hết, sự giáo dục phải được thể hiện một cách liên tục và cương quyết trên mọi bình diện của xã hội : Từ chính quyền các cấp, từ mọi sinh hoạt Tôn giáo cho đến từng đoàn thể, cá nhân.  Nơi nào có sự học tập, là nơi đó phải được nhắc nhở những bài học, những gương sáng về việc bảo vệ, nâng đỡ kẻ tật nguyền.  Nếu nghĩ xa hơn về tình người, thì sự nâng đỡ người tàn tật tại quê nhà không phải chỉ là trách nhiệm của riêng gia đình họ hay của chính quyền, của những tổ chức từ thiện, mà nên được hiểu như là trách nhiệm tinh thần chung của đồng loại để bù lại chút hạnh phúc nhỏ nhoi cho những phận ngườị Trách nhiệm nhiều hay ít tuỳ thuộc vào mỗi tấm lòng, mỗi hoàn cảnh và nhất là tuỳ vào sự có quyền hạn của giới hữu trách.  Hạnh phúc luôn là một món quà vô giá và vô hạn, nhưng lại được mua bằng chỉ một chút ân cần .
 
Chúng ta không thể quy trách nhiệm cho ai trong việc bảo vệ và giúp đỡ những người khuyết tật, mà chính mỗi một người trong chúng ta cần phải tiếp tay dưới mọi hình thức, để ý thức yêu thương, đùm bọc kẻ thiếu may mắn được nảy nở và tồn tại trong tư duy chung của nhân loại, và của giống nòi Việt Nam nói riêng.  Sự chăm sóc không chỉ là miếng cơm manh áo, mà còn là sự nâng đỡ tinh thần.  Được như thế, những kẻ được tạm gọi là thiếu may mắn của thiên mệnh, mới tránh được sự bất hạnh do nhân định.
 
Riêng người đang viết những giòng tâm sự này, đang cố gắng làm một chút gì để xoa dịu nỗi tủi hờn của bao kẻ bị bất hạnh, bị ruồng rẫy nơi quê nhà, như xoa dịu niềm đau của chính người anh thân thương, đã một thời là nạn nhân của sự thiếu giáo dục nơi con trẻ và sự vô ý thức trách nhiệm nơi một số phụ huynh.
 
Mong rằng mọi người khuyết tật, được người lành lặn nhìn bằng trái tim.  Và cũng mong sao, những đồng tiền nhỏ bé mà người viết gom góp gởi về, được trở thành những tấm bánh ngon, những quả xoài chín mọng và nhất là, được đóng góp vào việc xây dựng những giếng nước trong lành, cho thoả cơn khát của những đứa trẻ tật nguyền trên vùng Tây nguyên gió bụi .
 
Dallas .  Một ngày chớm Thu, 2006.
Tiên Chu / Nhóm Hướng Về Tây Nguyên
TÌM LẠI ANH TÔI NƠI KHUNG TRỜI CŨ
 
Viết cho những trẻ em bất hạnh.
Và, để kính dâng hương hồn anh Nguyễn Tuấn Điệu .
 
 
Ngày tôi bước lên bậc Trung học, cũng là những ngày gia đình tôi dọn nhà rời khỏi xóm đạo tân lập của người Bắc di cư, nằm ở vùng ven thành phố Biên Hoà; tứ phía  bị bao quanh bởi những làng Nam toàn người bên lương, khuất trong cánh rừng cao su dầy đặc.
 
Viết là “bị bao quanh”, chắc nhiều người cho rằng chữ dùng không được khéọ  Nhận xét như thế chẳng sai đâụ Người viết cũng đã biết là cần phải sửa lại đôi chữ, nhưng sẽ không sửa theo cách bạn đang nghĩ trong đầu, mà lại sửa chữ “quanh” thành chữ “vây”.  Thật đấy ! Chẳng ngoa . Như thế mới đúng với hoàn cảnh của cái xóm đạo nghèo nàn vào thời hậu Cách mạng 1963, khi trẻ con trong xóm đạo chúng tôi hàng ngày đến trường, cứ phải làm dấu Thánh giá để can đảm xuyên qua vòng vây chòng ghẹo của đám trẻ người Nam.
 
Rời bỏ xóm làng thân thương, tuy thoát được cảnh sợ hãi bởi sự dao động Tôn giáo, nhưng anh em tôi vẫn khóc nhiều lắm.  Chúng tôi cứ nghĩ rằng thày mẹ tôi đã vô tình, chỉ vì thích dọn về gần họ hàng mà bắt chúng tôi phải buồn khổ khi phải từ biệt bạn bè, hàng xóm.  Mãi  đến khi đã khôn lớn, mỗi lần nhớ lại hoàn cảnh bất ổn lúc bấy giờ, tôi mới thương cho nỗi lòng của thày mẹ tôi và hiểu được lý do tại sao, gia đình lại dọn đi khỏi một nơi tưởng là đã an cư để lạc nghiệp.
 
***
 
Nơi gia đình tôi mới dọn đến cũng lại là một xứ đạo, nhưng không bị bao vây bởi những làng Nam, mà được bao bọc bởi những xứ đạo khác toàn người Bắc di cự  Ý nghĩ  trong đầu óc non nớt của tôi bấy giờ, là gia đình tôi đã được sống ở một nơi bình an lắm, vì nghĩ rằng tất cả vùng Hố Nai dọc hai bên Quốc lộ 1 được Chúa tạo nên, là chỉ để dành riêng cho người Bắc hiền lành ngoan đạo; Vì thế, thỉnh thoảng mới có một vài người nói giọng Nam đến rồi đi,  dáo dác vội vàng như đang... bước phạm vào vùng đất thiêng của Chúa .
 
Cũng như nơi xóm đạo cũ, ngày hai buổi chuông vang; nhưng chuông nhà Thờ ở đây không bị chìm ngay vào cánh rừng cao su mênh mông như trước, mà thi nhau vang inh ỏi ngay từ lúc tinh mơ khi đang ngon giấc, hay lúc chúng tôi mải mê rong chơi trên cánh rừng đầy quả mòi chua ngay sau nhà.  Sau hồi chuông như cố lật tung tấm chăn ấm hay làm vỡ toang buổi chiều êm ả, là tiếng đoàn chiên ngoan đạo rầm rập bước qua nhà.  Tất cả những âm thanh đó đã khiến anh em tôi không còn lý do nào để không nhận ra rằng:  Từ nay, khó thoát được ngày hai buổi đi lễ và việc dọn nhà về đây, có vẻ như là bị … chui vào rọ! 
 
Nhưng “tai hoạ” không chỉ vỏn vẹn có thế; dọn về đây, anh em tôi tránh được vỏ dừa Nam, lại gặp vỏ dưa Bắc.  Những đứa trẻ quen thói “Ma cũ bắt nạt ma mới” cứ bâu vào chúng tôi mà chòng ghẹọ Nay nghĩ lại, tôi vẫn cứ ước gì ngày ấy được may mắn như bây giờ, khi sự di chuyển chỗ ở đã xảy ra thường xuyên để có những “ma mới” về thế chỗ cho anh em tôi nhờ; hay giá mà anh trai tôi không ốm yếu gầy gò, thì sự chòng ghẹo của đám trẻ cũng chỉ ở vào giới hạn đủ để làm đứa khác bực mình, có khi nổi quạu đánh lại - Như tôi chẳng hạn,  đã nhiều lần liều mình giáng trả những quả đấm toé lửa, để lột ra khỏi mình cái nhãn hiệu "ma mới".  Chẳng bao lâu sau khi dọn nhà về vùng rặt người "có đạo", phận tôi coi như đã yên; chỉ tội nghiệp cho anh tôi, dù đã có một vài gia đình mới dọn về, nhưng vì gầy ốm nên trong con mắt những thằng "ma cũ" ngỗ nghịch, anh vẫn cứ bị làm con "ma mới" thiệt thòi .
 
Chỉ một năm sau, sinh hoạt của gia đình tôi nơi xứ đạo mới đã trở thành quen thuộc.  Thày mẹ tôi lại cho chúng tôi vào đoàn Hướng Đạo nên đối với bản thân tôi, chẳng còn nỗi bận tâm gì trên mảnh đất mọc đầy những nhà thờ cao vút và những cánh rừng chồi mênh mông bên kia hàng rào Ấp Chiến Lược.  Riêng anh tôi, phận thiệt thòi vẫn đeo đuổi; thoát được tai ách bên phía trường học vì giỏi dang được chúng bạn nể kiêng, thì lại vướng nạn bên mạn nhà Thờ; tất cả vì một điều hơi tréo cẳng, là lại bởi chính tình thương mến của cha xứ.
 
Ôi ! Ngày ấy, mọi thứ ở nhà Cha cái gì cũng ngon làm sao!  Lúc còn thơ, tôi vẫn nghĩ mãi về điều này mà chẳng ra lời giải đáp.  Có thể là Chúa ban riêng cho những người đi tu chăng?  Chỉ cần nhìn vào sân nhà Cha đã thấy thèm: Ngay đầu khoảng sân trống là cái giếng có nắp đúc bằng xi-măng gắn máy bơm nước... bằng tay, cả vùng không còn ai có .  Nước mát trong vắt và ngọt như pha đường.  Có lẽ, đây là nguồn nước duy nhất trong xứ không có cung quăng bơi lội, nên trẻ con thường cứ cặp đôi mà kéo đến, thay nhau, đứa thì kéo cần, đứa thì há miệng uống nọ  Ngay cạnh sân giếng là hàng rào kẽm gai ngăn với hàng xoàị  Đến mùa, quả chín vàng cả cây; chẳng bù cho mấy cây nhà tôi, ít khi được nhìn thấy quả nào ngả màụ Còn kia là khóm chuối tiêu ra buồng hết lứa này đến lứa khác, lắm khi chim đã đến mổ lỗ chỗ mà vẫn chưa thấy bà bếp động tĩnh gì; đã nhiều lần đứng ngoài hàng rào nhìn vào, chúng tôi thèm nhỏ rãị  Có lần, mẹ tôi bảo anh tôi vào trình Chạ  Tuy hơi nhút nhát, nhưng có lẽ vì niềm hy vọng dạt dào nên anh tôi mạnh dạn đi vòng qua sân nhà Thờ để bấm chuông vào cổng trước.  Quả thật, khi về, trên tay anh xách hai nải chuối đầy ắp.  Từ đó, cha xứ thương anh em chúng tôi hơn, ngài thường sai bà bếp gọi chúng tôi sang để cho quà;  lắm khi chúng tôi được ăn những miếng bánh thật ngon chưa hề thấy ngoài chợ.  Sau này chúng tôi biết được rằng, hầu hết những quà cáp mà giáo dân biếu xén trong những dịp Tết hay cưới hỏi, ngài đều sai bà bếp đem phát cho đám trẻ gần nhà Thờ, chứ chẳng riêng gì anh em tôi .
 
Thế mà, nhiều đứa trẻ được quà nhưng lại chỉ có mỗi anh tôi bị rắc rốị  Này bạn ạ, chớ vội nghĩ oan cho cha xứ của tôi mà có tội đấy!   Ngài hiền lành đáng kính rất mực, nhưng ngược lại thì mấy đứa đệ tử giúp lễ của ngài lại láu cá hết mức.  Chúng ghét anh em tôi chỉ vì một điều rất đơn giản, là được hưởng quà của cha xứ mà vẫn một mực gọi chúng bằng "thằng".  Đời này quả lắm điều vớ vẩn!  Cho đến bây giờ, sau mấy chục năm trường suy nghĩ, tôi vẫn không thể hiểu được tại sao cũng chỉ là những đứa nhóc nghịch ngợm như tôi,  mà hễ vào đội giúp lễ cho Cha, là nhiều người đã gọi chúng bằng "cậu" một cách rụt rè.  Quả là vô lý ! Nhưng cũng chính vì sự suy nghĩ rất hợp lý của anh em tôi nên sáng nào đi lễ về ngang qua cổng nhà Cha, cũng thường bị bọn chúng kéo ra khà khịa, và anh tôi lại là đứa chịu nhiều bể đầu sứt trán nhất.
 
Sự bắt nạt cứ thế dai dẳng.  Đã nhiều lần thày tôi định vào trình Cha, nhưng mẹ tôi can ngăn, e rằng làm phiền đến cha xứ và phiền các "cậu".  Cuối cùng, thày tôi phải rước ông chú họ đi lính về nhà vào dịp chú được nghỉ phép... .  Thế rồi, cứ mỗi buổi tối, chú tôi lại mở toang cổng rồi dạy chúng tôi vài miếng võ ... hiểm.  Trẻ con đồn nhau thập thò đứng xem.  Ba hôm sau chú lại đị  Ấy thế mà từ đó mọi sự im bặt, anh tôi chẳng còn đứa nào dám hà hiếp.  Được đà, anh em tôi đều đi học võ.  Anh mạnh khoẻ hẳn ra rồi sau này cũng gia nhập vào quân đội .
 
***
 
Thấm thoắt đã hơn bốn mươi năm trôi quạ  Lắm khi nghĩ đến thân phận của anh tôi mà thương.  Anh như kẻ có mệnh tật ách lại bị sinh ra trên đất Việt.  Dù anh không câm điếc què quặt, không phong cùi dị dạng, nhưng chỉ vì gầy gò mà sự thua thiệt bám suốt thời thơ ấu, như chúng đã bám vào một người câm không điếc gọi là " Lão câm già" sống trong viện Bác Ái, cũng bằng những đứa trẻ ngỗ nghịch đuổi theo ông khắp các nẻo đường để chọc ghẹo, hay bám vào những đứa trẻ tật nguyền : cái Tuyết què, thằng Viễn gù, thằng Long "xì que"...  cùng biết bao nhiêu kẻ xấu số suốt đời đã phải mang dị dạng trên thân xác, lại phải mang thêm cả cái "chết danh" đầy mặc cảm, khiến họ phải suốt ngày lủi thủi một mình để tránh sự châm chọc, hành hạ bởi những đứa lành lặn.
 
Ôi! Những ngày tháng cũ đậm nỗi buồn!  Ở ngay nơi xứ đạo toàn là những người "Chúa chọn" mà kẻ bất hạnh còn bị dập vùi, trách chi ở những nơi "Chúa chưa chọn"!  Như thế, phải chăng sự bất hạnh đã không do Thượng đế mang tới, mà bởi con ngườị  Kẻ khuyết tật đơn giản chỉ là những người thiệt thòi về thể chất cần được nâng đỡ, nhưng sự bất hạnh về tinh thần là do chính người chung quanh mang đến để đầy đoạ nhaụ  Tiếc thay, trên trái đất này, vẫn còn nhiều người đã bị thua thiệt về thể xác, lại còn bị vùi dập trong nỗi đắng cay !
 
Nhớ lại những tháng ngày thơ ấu của anh tôi, mà thương cho những trẻ em nghèo khổ, tật nguyền ở quê nhà.  Nỗi thiệt thòi của anh tôi sánh với người khuyết tật chỉ là một trời, một vực, vậy mà nó đã để lại trong tâm hồn tôi một sự khó chịu gần như nỗi hận khó phôi phạ  Nếu tôi lại chính là kẻ bị tật nguyền, suốt cuộc đời phải đối diện với muôn vàn cay đắng … . Thú thực, tôi chẳng dám nghĩ tới mà chỉ biết thầm cám ơn Thượng đế đã không kéo tôi ra từ đám sinh linh, trong cuộc lựa chọn người thủ vai “kẻ khuyết tật” cho Ngàị  Tất cả đều do thiên định.  Người lành lặn thường được hiểu trong tư duy thông thường của loài người, là người được may mắn Trời thương hơn kẻ khác; nhưng nếu hiểu bằng sự chấp nhận mình thật nhỏ nhoi trước Thượng đế, sẽ nhận ra ngay rằng tự thuở nào, mọi người dường như đã xếp hàng đứng trước Thượng đế để Ngài chọn lựa từng người, mà giao nhiệm vụ thi hành thiên ý sâu sa của Ngàị  Trong sự lựa chọn này, mọi người đều đã được bình đẳng, chẳng ai hơn cũng chẳng ai kém.  Có những người được chọn ra để sau này làm vua, cũng có những người được chọn lựa để thủ những vai chịu đau đớn về thể xác, chịu nhiều thua thiệt trong sự đui hủi, què quặt, để làm một thí dụ điển hình cho Ngài dạy nhân loại bài học Yêu thương.  Nếu ví cuộc đời như vở kịch trường thiên của Thượng đế, mà ý nổi bật trong nội dung là Tình Yêu , là sợi dây liên kết giữa loài người với nhau và với Thượng đế, thì chúng ta, những người lành lặn chỉ thủ những vai tầm thường, còn những kẻ ta cho là bất hạnh mới là những vai chính. Hiểu được như vậy thì hẳn phải nhận ra họ đã là những anh hùng, đang thi hành một sứ mạng to tát. Và, kẻ nào đã không nhận ra phận mình, lại còn nhẫn tâm đem lại đau khổ cho đồng loại, cả là một sự đối nghịch với Trời .
 
 Riêng trên đất nước mình, không biết sau hơn bốn mươi năm, kể từ khi người viết được chứng kiến tận mắt những đau khổ của người khuyết tật, thì nền giáo dục đã tác động vào quần chúng được xa hơn, sâu rộng hơn xưa hay không ?  Nền giáo dục đã thay đổi được nhiều trên thái độ của một số kẻ lành lặn thiếu ý thức, hay sự cố gắng giáo dục vẫn không giảm bớt được quán tính vô giáo dục, của không ít những người chỉ thích mang sự bất hạnh đến cho người tật nguyền bằng nhiều cách; bằng sự hất hủi miệt khinh, bằng sự lợi dụng sức lao động và lợi dụng phần lành lặn còn lại của những người kém may mắn để  trục lợi cho mình.
 
Muốn tạo được một nền tảng phẩm hạnh trên cách cư xử với người khuyết tật cho cả một xã hội, phải cần một thời gian dài, nhưng trước hết, sự giáo dục phải được thể hiện một cách liên tục và cương quyết trên mọi bình diện của xã hội : Từ chính quyền các cấp, từ mọi sinh hoạt Tôn giáo cho đến từng đoàn thể, cá nhân.  Nơi nào có sự học tập, là nơi đó phải được nhắc nhở những bài học, những gương sáng về việc bảo vệ, nâng đỡ kẻ tật nguyền.  Nếu nghĩ xa hơn về tình người, thì sự nâng đỡ người tàn tật tại quê nhà không phải chỉ là trách nhiệm của riêng gia đình họ hay của chính quyền, của những tổ chức từ thiện, mà nên được hiểu như là trách nhiệm tinh thần chung của đồng loại để bù lại chút hạnh phúc nhỏ nhoi cho những phận ngườị Trách nhiệm nhiều hay ít tuỳ thuộc vào mỗi tấm lòng, mỗi hoàn cảnh và nhất là tuỳ vào sự có quyền hạn của giới hữu trách.  Hạnh phúc luôn là một món quà vô giá và vô hạn, nhưng lại được mua bằng chỉ một chút ân cần .
 
Chúng ta không thể quy trách nhiệm cho ai trong việc bảo vệ và giúp đỡ những người khuyết tật, mà chính mỗi một người trong chúng ta cần phải tiếp tay dưới mọi hình thức, để ý thức yêu thương, đùm bọc kẻ thiếu may mắn được nảy nở và tồn tại trong tư duy chung của nhân loại, và của giống nòi Việt Nam nói riêng.  Sự chăm sóc không chỉ là miếng cơm manh áo, mà còn là sự nâng đỡ tinh thần.  Được như thế, những kẻ được tạm gọi là thiếu may mắn của thiên mệnh, mới tránh được sự bất hạnh do nhân định.
 
Riêng người đang viết những giòng tâm sự này, đang cố gắng làm một chút gì để xoa dịu nỗi tủi hờn của bao kẻ bị bất hạnh, bị ruồng rẫy nơi quê nhà, như xoa dịu niềm đau của chính người anh thân thương, đã một thời là nạn nhân của sự thiếu giáo dục nơi con trẻ và sự vô ý thức trách nhiệm nơi một số phụ huynh.
 
Mong rằng mọi người khuyết tật, được người lành lặn nhìn bằng trái tim.  Và cũng mong sao, những đồng tiền nhỏ bé mà người viết gom góp gởi về, được trở thành những tấm bánh ngon, những quả xoài chín mọng và nhất là, được đóng góp vào việc xây dựng những giếng nước trong lành, cho thoả cơn khát của những đứa trẻ tật nguyền trên vùng Tây nguyên gió bụi .
 
Dallas .  Một ngày chớm Thu, 2006.
Tiên Chu / Nhóm Hướng Về Tây Nguyên
  |     |  In Bài  In